Phóng viên (PV): Đã có nhiều nhà máy XLNT được xây dựng tại các đô thị ở nước ta, vậy những nhà máy này đã đáp ứng yêu cầu về XLNT như thế nào, thưa ông?

GS, TS Trần Hiếu Nhuệ: Tình hình XLNT sinh hoạt đô thị trong những năm gần đây đã có nhiều chuyển biến theo hướng tích cực, góp phần hạn chế sự gia tăng ô nhiễm môi trường nói chung và môi trường nước nói riêng. Theo số liệu thống kê, trong tổng số gần 800 đô thị trên cả nước có 42 đô thị đã đầu tư công trình XLNT đạt tiêu chuẩn quy định. Tuy số lượng công trình XLNT đô thị có tăng qua các năm nhưng lượng nước thải được xử lý vẫn ở mức thấp, chỉ đạt khoảng 25-30%. Tình trạng nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý, xả thẳng ra môi trường vẫn diễn ra khá phổ biến ở các đô thị. Hiện nay, các công trình XLNT đạt tiêu chuẩn chủ yếu tập trung ở các đô thị lớn như TP Hồ Chí Minh, Hà Nội. Tại Hà Nội, một số nhà máy, trạm XLNT lớn đã đi vào hoạt động như: Trạm XLNT Bắc Thăng Long-Vân Trì (42.000m3/ngày đêm); Nhà máy XLNT Yên Sở (200.000m3/ngày đêm); Nhà máy XLNT Hồ Tây (15.000m3/ngày đêm); Trạm XLNT hồ Bảy Mẫu (13.300m3/ngày đêm)... Nhưng các cơ sở này mới chỉ xử lý được khoảng 26,3% tổng lượng nước thải sinh hoạt của thành phố. Tại TP Hồ Chí Minh, lượng nước thải sinh hoạt đô thị vào khoảng 2,75 triệu m3/ngày đêm nhưng tỷ lệ được xử lý chỉ đạt khoảng 13%. Do đó, yêu cầu về XLNT đô thị vẫn còn rất cao.

 

GS, TS Trần Hiếu Nhuệ.  

 

PV: Công nghệ luôn là yếu tố quan trọng trong XLNT nói riêng, các vấn đề về môi trường nói chung. Ông có đánh giá như thế nào về công nghệ XLNT của nước ta hiện nay?

GS, TS Trần Hiếu Nhuệ: Công nghệ XLNT đang được áp dụng ở nước ta so với thế giới là những công nghệ tiên tiến, hàng đầu. Những công nghệ này cũng rất đa dạng, tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng vùng, từng địa phương và tùy theo công suất của nhà máy cũng như trạm XLNT tập trung. Xét ở mức đơn giản, chúng ta đã có công nghệ xử lý bằng hồ sinh học (hay còn gọi là hồ ổn định nước thải). Đây là phương pháp xử lý đơn giản nhất, không yêu cầu kỹ thuật cao, vốn đầu tư ít, chi phí rẻ, đang được áp dụng ở một số thành phố như: Bắc Giang (Bắc Giang), Đồng Hới (Quảng Bình), Phan Thiết (Bình Thuận). Bên cạnh đó, còn một số công nghệ tiên tiến và tiết kiệm năng lượng hơn như: Công nghệ kênh ô-xi hóa tuần hoàn, công nghệ phản ứng sinh học theo mẻ (SBR)... Một trong những công nghệ hiện đại đang được áp dụng hiện nay là công nghệ AO, giúp xử lý các chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học và các loại nước thải có chứa hàm lượng ni-tơ, phốt-pho cao. Công nghệ này đang được áp dụng ở các trạm XLNT Kim Liên, Trúc Bạch (Hà Nội), sắp tới là Nhà máy XLNT Yên Xá. Với những công nghệ này, chúng ta hoàn toàn có đủ trình độ kỹ thuật để XLNT.

 

Kiểm tra hệ thống điều khiển ở Nhà máy Xử lý nước thải Cầu Ngà (Hoài Đức, Hà Nội). Ảnh: NGUYỄN LÊ 

 

 PV: Tuy chúng ta đã có công nghệ tốt để XLNT, song lượng nước thải được xử lý vẫn chưa nhiều. Vậy theo ông, cần phải có giải pháp gì để tăng lượng nước thải được xử lý?

GS, TS Trần Hiếu Nhuệ: Với các nhà máy XLNT mà chúng ta đang có, nếu hoạt động đúng công suất thiết kế thì sẽ xử lý được lượng nước thải lớn hơn nhiều. Tuy nhiên, nhiều nhà máy chỉ hoạt động một phần công suất thiết kế. Nguyên nhân là việc xây dựng hệ thống thu gom, XLNT không đồng bộ với quy hoạch xây dựng các nhà máy. Ví dụ, Trạm XLNT Bắc Thăng Long-Vân Trì chỉ xử lý trung bình 5.600m3/ngày đêm trên tổng công suất 42.000m3/ngày đêm vì chưa có mạng lưới đường ống thu gom nước thải từ khu đô thị, dân cư xung quanh. Lượng nước thải đang được xử lý chủ yếu đến từ Khu công nghiệp Bắc Thăng Long. Vì thế, cần có giải pháp thu hút nguồn vốn đầu tư thiết kế bổ sung hệ thống nối các đường ống, cống thoát nước thải sinh hoạt tới các nhà máy XLNT đã được xây dựng. Bên cạnh nguồn đầu tư của doanh nghiệp tư nhân, Nhà nước có thể đưa ra các chính sách vận động đóng góp từ phía người dân một phần bằng công sức hoặc cơ sở vật chất. Qua đó, giúp nâng cao ý thức, trách nhiệm của người dân đối với công tác bảo vệ môi trường nước. Hiện nay, một số dự án XLNT lớn vẫn đang tiếp tục được đầu tư xây dựng, như Nhà máy XLNT Yên Xá (TP Hà Nội) với công suất 270.000m3/ngày đêm, dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2019. Theo tính toán, đến năm 2020, chúng ta có thể xử lý lượng nước thải khoảng 1 triệu m3/ngày đêm trên tổng lượng nước thải sinh hoạt đô thị dự kiến vào khoảng 3 triệu m3/ngày đêm (hơn 30%). Theo lộ trình đến năm 2030, chúng ta sẽ cố gắng nâng tỷ lệ này lên 80%. Mặt khác, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đang xây dựng quy chuẩn nước thải của đô thị chứ không chỉ có quy chuẩn về nước thải sinh hoạt hay công nghiệp như hiện nay, hy vọng sẽ hoàn thành trong vòng 1-2 năm tới.

PV: Trân trọng cảm ơn ông!

NGUYÊN VŨ - LÊ HIẾU (thực hiện)